Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

Sự tích hợp mới thêm của sách giáo khoa.

Một vấn đề nữa, đổi mới giáo dục đào tạo phải được đặt trong tổng thể nền kinh tế - từng lớp và những dự báo phát triển trong tương lai. Trong một thế giới hội nhập với sự vận động đến bất tận của tri thức, không thể nối chạy đuổi để tạo ra những cỗ máy có thể nạp đầy tri thức mà phải tạo ra những con người có khả năng làm chủ tri thức, biết độc lập nghĩ suy và giàu khả năng tư duy sáng tạo, biết sống, cống hiến bằng trái tim, bằng bổn phận với đất nước, với dân tộc. Do đó, trước khi muốn viết lại sách để giáo dục thì nên cải cách lại phương pháp dạy và học, đổi mới định hướng cho chương trình, nội dung và phương pháp cho các bậc học.

Đến năm 1956, sau hai năm "từng đoàn quân thắng lợi tiến về Thủ đô", để thống nhất nền giáo dục trong chiến khu kháng chiến và những vùng địch tạm chiếm, một cuộc cải cách giáo dục mới được tiến hành. Thứ sáu, việc chọn lọc khối lượng và tính chất các đơn vị kiến thức đưa vào chương trình nhiều khi chưa có tính sư phạm, còn quá tải, sai thực tiễn… Một vị lãnh đạo của Bộ GD-ĐT cũng nhấn: Nội dung và phương pháp giáo dục lạc hậu, nặng về dạy chữ, gây hiện tượng quá tải không chỉ đối với học trò mà còn với công tác quản lý… Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy cải tiến SGK là hết sức cần thiết.

Tuy nhiên, sau một thời kì "lưu hành", SGK đã "phát lộ" nhiều bất cập và cho đến bữa nay, có thể thấy rằng SGK không chỉ là gánh nặng với học trò, với thầy, cô giáo mà còn kéo theo nhiều hệ lụy cho từng lớp. Nếu tìm hiểu tiến trình phát triển của ngành giáo dục nước nhà gần một thế kỷ qua, mỗi lần canh tân giáo dục phổ thông là một lần… đổi thay sách giáo khoa.

Thứ nhất, việc xây dựng chương trình học còn thiếu nhiều kiến thức, kể cả thiếu một số môn mấu chốt về khoa học tư duy, về kỹ năng sống, khả năng sáng tạo.

Một lần nữa, SGK lại được "xới" lên với hàng loạt vấn đề như: Quá nặng về tri thức nhưng ngày càng xa cách thực tại và không khuyến khích được tư duy sáng tạo của học trò; nội dung thay đổi và cách tân quá nhiều trong thời gian ngắn; khâu tổ chức biên soạn cũng có không ít vấn đề… Câu chuyện SGK với những khuyết thiếu hoặc quá thừa không chỉ làm phao phí tiền bạc, thời kì mà còn đặt lên vai học trò, giáo viên những sức ép không đáng có.

Thứ tư, SGK hiện thời thiếu tính xuyên môn trong cấu trúc chương trình. Nếu không có những người thầy máu nóng, trí não sẽ không có những tư cách, những hào kiệt cho tổ quốc. Ba cuộc canh tân giáo dục phổ quát đã làm tròn sứ mạng trong những thời đoạn lịch sử khăng khăng.

Vì sao bộ SGK được xây dựng công phu với sự tham dự của đông đảo giới khoa học lại có kết quả như vậy? Vấn đề không chỉ là chuyện 3 cấp học với hàng chục môn, hàng trăm quyển sách, những chi tiết chưa chuẩn xác… mà là tư duy của những người làm quản lý giáo dục, những người làm SGK cứ bâng khuâng giữa dòng! Một nhà khoa học giáo dục đã chính trực nêu lên 6 vấn đề của SGK hiện thời.

Học sinh Việt Nam cần có một chương trình đào tạo mới và bộ SGK tích hợp những tri thức cơ bản, những giá trị văn minh của dân tộc và nhân loại, được xây dựng một cách có hệ thống mang tính đặc thù, đáp ứng đích đào tạo nguồn nhân công của giang san chứ không phải là sự chắp vá, vay hay áp đặt một cách thô thiển công nghệ giáo dục từ các nước khác.

Trong kháng chiến chống Pháp, với đích xây dựng một nền giáo dục thích hợp với chế độ mới, chúng ta đã tiến hành cuộc cải cách giáo dục đầu tiên.

Tiếp đó, sau 4 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, năm 1979, nhằm hợp nhất nền giáo dục chung cho cả nước, cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba được tiến hành với việc xây dựng hệ thống giáo dục phổ quát 12 năm. Với chức năng tự thân, SGK có vai trò đặc biệt quan yếu trong tiến trình nhận thức của học sinh, chứa đựng hàm lượng căn bản nhất về tri thức và là nền móng của tư duy sau này của đời người.

Thế nên đổi mới giáo dục chẳng thể tách rời việc cách tân sư phạm. Thứ hai, SGK bây giờ định vị không đúng vai trò của các môn học trong cấu trúc tri thức (tỉ dụ, ngoại ngữ có vai trò quan yếu trong đời sống ngày nay nhưng lại là môn tự chọn, đưa vào chương trình từ lớp 3). Trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, GS. Theo đó, bộ SGK mới được viết cho chương trình giáo dục phổ thông 10 năm, thay vì 9 năm như thời kháng chiến.

Không ít kinh nghiệm biên soạn SGK của nước ngoài đã được tiếp nhận và theo một nhà giáo dục học thì có đến 500 nhà khoa học đã tham gia biên soạn và thẩm định bộ SGK này.

Với một chương trình giáo dục không còn hạp với tầng lớp đương đại, không bắt kịp với xu thế phát triển của thế giới thì cố nhiên phải thay đổi. Lần cải cách SGK thứ tư tiến hành vào năm 2002 được thực hành một cách bài bản hơn: Xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu dạy thử nghiệm rồi mới làm SGK chính thức.

Từ đó đổi mới phương pháp dạy và học trên cơ sở coi người học là một chủ thể sáng tạo đầy tiềm năng để khơi gợi tiềm năng ấy mở ra và hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống từng lớp. Thế nhưng chúng ta đã không làm được điều ấy nên kiến thức bị phân khúc, tách rời, đứt quãng. Sự nghiệp giáo dục đối với Việt Nam không chỉ là động lực cho kinh tế mà còn là nguyên tố để chấn hưng văn hóa, gìn giữ và phát huy các giá trị Việt Nam.

Theo Đại tự điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), SGK là sách soạn theo chương trình, dùng để dạy và học trong trường phổ thông. Theo Phó chủ toạ Tổ chức phát triển quốc tế chuyên nghiệp Pearson - Sherry Preiss, "một cuốn SGK phải sống và chuyển động, kiến tạo và sáng tạo những kiến thức của người học, của xuân đường và cộng đồng".

Nếu không có cách nhìn hệ thống, tư duy khoa học là lộ trình cụ thể thì công cuộc canh tân giáo dục không chỉ như "dã tràng xe cát" mà còn để lại nhiều hệ lụy cho các đời người Việt trong ngày mai.

Để điều đó trở nên hiện thực thì không chỉ tạo dựng cơ sở vật chất cho giáo dục - đào tạo mà còn phải thay đổi tư duy, nhận thức của những người thầy (bởi họ chính là cầu nối đưa mọi sự cách tân giáo dục đến với học trò).

Nếu chỉ quan hoài đến việc viết lại sách sẽ không giải quyết được vấn đề gì… Như vậy, vấn đề đặt ra là xây dựng nội dung chương trình dạy học phải theo hướng giảm tải, kết cấu đồng bộ, hợp lý giữa giáo dục tư cách, lối sống với giáo dục kiến thức - văn hóa - khoa học - công nghệ, giáo dục tư duy sáng tạo, kỹ năng sống, kỹ năng thực hiện. Cái hay ở chỗ là chỉ cần một bộ SGK in đen trắng trên giấy xấu đã được nhiều thế hệ trong một gia đình giữ giàng, chuyền tay nhau học tập.

Thứ ba, những tri thức sử dụng lối dạy đồng tâm, xuyên suốt các lớp là phương pháp có tính sư phạm cao, bởi thế bộ SGK phải có một tổng chủ biên quán xuyến từ đầu đến cuối. Then chốt của giáo dục là dạy người và dạy làm người.

"Muốn thắng trong kinh tế, đầu tiên phải thắng trong giáo dục", chúng ta cần hình thành một triết lý giáo dục riêng mang đặc thù Việt Nam và định hình rõ đích giáo dục. Thôi thì dù thất vọng nhưng vẫn đấu phải hy vọng! nền móng nào để xây dựng bộ SGK chuẩn mực? Cho đến nay, đây vẫn là một câu hỏi chưa cho câu trả lời xác thực.

Kinh nghiệm từ những lần cải cách giáo dục trong lịch sử cũng như những lần đổi thay SGK trước đây không cho phép biến những "cải tiến" trong giáo dục - đào tạo thành "cải lùi".

TS Trần Hồng Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ GD-ĐT cho rằng: Chúng ta phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, trong đó có rất nhiều việc phải làm chứ không phải chỉ có chằm chặp nghĩ đến chuyện viết lại SGK.

Đã quá nhiều năm chúng ta kỳ vọng vào một bộ SGK chuẩn trong thời kỳ hội nhập, nhưng rồi vẫn thất vọng đến tận giờ. Vừa viết sách, vừa hình thành chương trình giáo dục trong bối cảnh khôn cùng khó khăn, nhưng nền móng kiến thức từ những cuốn SGK ấy đã tạo nên nhiều hào kiệt phục vụ sự nghiệp phát triển sơn hà.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về SGK, tựu trung có thể hiểu SGK là loại sách cung cấp tri thức, được biên soạn với mục đích dạy và học. Đặc biệt, phải xác định rõ mục tiêu giáo dục và việc đổi mới SGK là công đoạn rốt cuộc trong quá trình đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục.

Chúng ta đang giáo dục con người theo cách bị động. Cũng có rất nhiều tiêu chí được đặt ra với loại sách này. Thế nhưng đổi thay ra sao, trên nền tảng nào, thực hành vào thời điểm nào… lại là cả vấn đề. Thứ năm, thiếu tính liên thông về kiến thức. Thuật ngữ SGK còn được hiểu là một loại sách chuẩn cho một ngành học. Những cuốn sách giáo khoa trước nhất viết mộc mạc, in trên giấy bản đã xuất hiện vào năm 1950.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét