Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

Vựa lúa ĐBSCL đang đánh đổi những đáng tin cậy gì?

Đó là nhận định của ông Mike Ives, phóng viên hãng tin AP, hiện đang công tác tại Hà Nội trong một bài báo đăng trên tờ Yale Environment 360. Xin được chia sẻ bài viết được lược dịch dưới đây cùng độc giả như một “góc nhìn từ bên ngoài” đối với vấn đề quy hoạch sinh sản lúa gạo vùng ĐBSCL của chúng ta.

ĐBSCL là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông, có diện tích gần bằng Thụy Sĩ với hệ thống thủy triều phức tạp. Hàng năm, cứ vào mùa thu, dòng nước từ sông Mê Kông lại tràn bờ, bồi đắp phù sa cho vùng đồng bằng màu mỡ. Còn vào mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4), nước mặn lại chảy ngược dòng khoảng 30 km về phía thượng nguồn.

Cuối thập niên 1960, Mỹ và Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) đã giúp các tỉnh gia tăng sản lượng gạo bằng cách tương trợ gieo trồng các giống lúa lai và xây dựng màng lưới đê điều, kênh mương thủy lợi.

Các chiến dịch kiểm soát thủy văn của ĐBSCL được đẩy mạnh vào những năm 1990, khi Chính phủ cho xây dựng một mạng lưới các tuyến đê cao hơn xung quanh các vùng trồng trỉa và xây cống ở vùng cửa sông, kênh rạch. Các con đê này không chỉ góp phần giảm thiểu tác động của lũ lụt và giảm thâm nhập thắm thiết còn giúp dân cày ĐBSCL canh tác quanh năm.

Gia đình anh Phan Đình Đức ở An Giang sống đẵn dựa vào nghề trồng lúa. Ngay sát nhà anh là cánh đồng lúa thẳng thừng cò bay với những thửa ruộng ngập nước được bao quanh bởi một mạng lưới kênh mương cùng những con đê cao cỡ chừng 3m. Mạng lưới ấy tạo điều kiện cho nông dân trồng lúa quanh năm ở nơi mà cách đây nửa thế kỷ đất còn bị bỏ nhàn rỗi tới nửa năm và chỉ trồng được mỗi năm một vụ giữa những đợt lũ.

Trên địa bàn tỉnh An Giang, một địa phương có thế mạnh về trồng lúa của Việt Nam, sản lượng lúa gạo đã tăng gấp 4 lần chỉ trong vòng 4 thập kỷ qua. Ngoài việc đưa vào trồng các giống lúa năng suất cao thì sự ra đời của công trình “đê tháng tám” cũng là căn do quan trọng giúp An Giang gia tăng sản lượng lúa. Nhờ công trình này, người dân cày có thể kéo dài vụ lúa từ tháng 6 sang tháng 8 và trồng thêm được một vụ.

Các con đê lớn hơn được xây dựng vào thập niên 1990 và những năm đầu thế kỷ XXI tiếp kiến tạo điều kiện cho những nông  http://tranthachcaodephn.Blogspot.Com/  dân như anh Đức trồng thêm vụ lúa thứ ba trên cùng một diện tích…

Thành tựu vượt bậc chỉ trong một đời đã đưa Việt Nam từ một nước nghèo, chưa tự chủ được về lương thực trở thành nước có thu nhập làng nhàng thấp, song song ghi tên mình vào danh sách các quốc gia sản xuất gạo hàng đầu thế giới.

Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, việc tiếp kiến xây dựng các con đê và hệ thống thủy lợi ở vùng ĐBSCL và dọc bờ biển Đông đang phá vỡ các hệ thống sinh thái phức tạp tại đây.


 Một con đê biển ở tỉnh Trà Vinh (Ảnh: Andrew Wyatt) 

Đơn cử, đê cao ở đầu nguồn một mặt có thể chắn xung lũ tự nhiên nhưng mặt khác lại lấy đi các chất dinh dưỡng quan yếu cho vùng lúa và ngư trường phía cuối hạ nguồn.

Xây đê cao ở khu vực đất đai màu mỡ cũng chặn dòng chất dinh dưỡng từ đất. Ruộng lúa càng nằm sâu trong đê thì nước càng chứa ít chất hữu cơ hơn. Bên cạnh việc giảm chất lượng đất, thiếu các chất dinh dưỡng còn khiến đất bị sụt lún do không được bồi đắp thẳng.

Ngoài ra, hóa chất nông nghiệp còn gây ô nhiễm kênh mương thủy lợi, khiến nước và đất bị nhiễm phèn. Các nhà khoa học cho rằng chính điều này đã góp phần làm suy giảm quần thể cá và đa dạng sinh học vùng ĐBSCL.

Dọc bờ biển phía nam Việt Nam, nhiều cống và đê được xây dựng để phục vụ trồng lúa nước và ngăn mặn vào mùa khô mà không lường trước được rằng chúng sẽ hạn chế việc luân  thiết kế thi công trần vách thạch cao đẹp  chuyển các chất hữu cơ giữa môi trường nước ngọt và nước mặn, khiến dừa nước – loài cây đặc hữu có nhiều giá trị kinh tế của vùng – chết hàng loạt.

Chưa kể, hệ thống cống và đê còn gây gián đoạn dòng chảy dinh dưỡng thăng bằng giữa nước ngọt và nước mặn, đe dọa những cánh rừng ngập mặn ven biển. Giả thử những cánh rừng này mất đi, Việt Nam sẽ càng dễ bị thương tổn hơn trước những cơn bão lớn và hiện tượng nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu.

Xây đê dọc bờ biển cũng giúp dân cày ven biển chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm trong môi trường nước lợ. Tuy nhiên hoạt động nuôi tôm thường diễn ra trong đê khiến nước thải ứ đọng lại chứ không chảy ra biển. Điều này, theo một nghiên cứu của ông Lê Anh Tuấn, Đại học Cần Thơ và một nhóm nhà khoa học quốc tế, sẽ làm nước lợ ngày một thâm nhập sâu vào nội địa, trong khi nước mặn nối ngược dòng qua kênh mương chảy về phía thượng nguồn, gây ô nhiễm đồng lúa và giếng nước, buộc người dân phải khoan giếng sâu hơn…

Ti tỉ vấn đề môi trường đang thôi thúc Chính phủ Việt Nam hoạch định và triển khai các giải pháp mang lại ích lợi dài lâu cho cả kinh tế và môi trường, chả hạn như bỏ lúa vụ ba, kiểm soát lũ ở vùng đồng bằng phía thượng nguồn để tăng bồi lắng phù sa, di chuyển đê biển ven bờ vào sâu trong nội địa để tạo điều kiện cho rừng ngập mặn phát triển hay thiết kế, xây dựng những tuyến đường bờ biển linh hoạt có thể thống nhất các hệ thống nước mặn và nước ngọt…

Điều khó khăn nhất với Việt Nam hiện giờ là phải chọn lựa: đấu đẩy mạnh xuất khẩu lúa gạo như một mặt hàng chủ lực bất chấp mọi hệ lụy về môi trường và từng lớp hay bỏ vụ lúa thứ ba, song song hạn chế xây dựng các cơ sở hạ tầng kiểm soát nguồn nước.

Theo nhà kinh tế học Martijn van de Groep, người đang quản lý dự án cộng tác giữa Hà Lan và Việt Nam – “Kế hoạch Châu thổ sông Cửu Long” – thì “vấn đề căn bản là Việt Nam có muốn nối nằm trong tốp các nước xuất khẩu gạo lớn hay không”.

Điều đáng mỉa mai, theo các chuyên gia, là dân cày vùng ĐBSCL không được hưởng lợi từ lúa vụ ba. Bởi lẽ, sản phẩm kém chất lượng bán với giá rẻ không thu lại được lợi ích là mà nông dân lại mất phí đầu tư cho phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Chưa kể, năng suất lúa gạo giảm khi chuyển từ canh tác lúa hai vụ sang ba vụ. Chính thành ra, theo ông Jake Brunner thuộc Tổ chức Bảo tồn tự nhiên Quốc tế (IUCN), chính sách phát triển lúa gạo hiện thời của Việt Nam chưa mang lại lợi. Cho người nông dân.

Tốc độ phát triển của ĐBSCL thực tại chưa thể so sánh với Đồng bằng sông Mississippi hay những đồng bằng khác trên thế giới. Tuy nhiên, giới khoa học vẫn lo ngại rằng một ngày không xa, vùng đồng bằng này sẽ trở thành tấm gương phản chiếu hình ảnh của các đồng bằng ở Hoa Kỳ và Hà Lan, nơi từng nhiều lần bị sụt lún đất và từng hứng chịu hàng loạt vấn đề nóng bỏng về môi trường do các công trình xây dựng hạ tầng lớn gây ra.

Và mặc dầu các tác động môi trường của việc trồng lúa ba vụ ngày một rõ rệt tại thượng nguồn ĐBSCL, vẫn chưa rõ liệu lời kêu gọi tự chính sách gạo là ưu tiên số 1 của các nhà khoa học có được Việt Nam lưu tâm hay không, nhất là trong bối cảnh Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang có thiên hướng đeo đuổi các chính sách chú trọng tăng trưởng kinh tế hơn là các mối quan tâm sinh thái.

Theo Diễn đàn Đầu tư 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét