Đứa con chị Nhị “xin” được, là niềm hy vọng của mai sau đối với chị

Hồi ấy, Đội Lâm sinh Trạm Lập có chẵn. Hồi ấy tuy cơm không đủ ăn, phải độn mì lát, bo bo nhưng ai cũng vô tư lự, ai cũng tràn ngập nhựa sống và lý tưởng.
Cũng giống những người phụ nữ khác như chị Đặng Thị Nguyệt (SN 1956), Trần Thị Liệu (SN 1960), Lê Thị Vân (SN 1959), Trần Thị Ngọc.
Tuy nhiên, vào thời khắc đó, để chuẩn bị cho việc xây dựng các lâm trường, gần 5. Họ giúp nhau có tinh thần, nghị lực để cùng sống. Sau khi một số nam giới ít oi bỏ về quê thì đại đội của chị còn lại. Chị Thiện nghẹn ngào kể chuyện với phóng viên.
Con đường rợp bóng cây che mát rượi là lối vào nhà chị Dương Thị Thiện, ở thôn 10, xã Sơn Lang.
Kiếm tấm chồng. “Sao mấy bạn khác có ba mà con không có hả mẹ? Câu hỏi ngờ nghệch của các con như nhát dao cứa vào ruột gan mình vậy!”, chị Thiện ngậm ngùi. Đàn ông. Chuyện của rất nhiều người nữ giới lâm trường ngày xưa như một áng mây buồn trên trời chiều Trường Sơn, dẫu có những người may mắn có được niềm hạnh phúc về đường gia đạo, nhưng còn đó những phận đời vẫn đơn độc khi tuổi đã xế chiều.
Ông Nông Văn Tưởng, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Ka Nak (huyện Kbang, Gia Lai), nguyên Tiểu trưởng đoàn Tiểu đoàn Khảo sát Thiết kế rừng của Sư đoàn 332 ngùi ngùi khi nhớ lại khoảng thời kì ấy: “Quả thật có sống trong những thời khắc đó mới hiểu được tâm tình của những cô gái trong rừng.
Thế nên tình yêu đơn giản bỗng trở thành một thứ tình cảm xa xỉ, ngoài tầm tay với của các chị.
Thấy người lạ đến, thằng bé con chị Thiện bật dậy như “lò xo” khiến sợi cói quấn vào cả ngón chân lôi theo cái chiếu dúm lại.
Đáp lại tiếng gọi trẻ thơ trong vắt ấy, mấy tiếng hú đáp trả lại rồi thấp thoáng trong lô rừng ngăn ngắt xanh, bóng vía của những người phụ nữ dần hiện ra với những bước chân tấp tểnh vì lối đi trong lô rất gập ghềnh.
Nhưng như một chị đã nói: “Với tôi, cuộc thế như vậy đã quá ý nghĩa rồi, có quá cố để mình nhìn lại và nghĩ tới mai sau tốt đẹp hơn cho con cháu, thế là thoả nguyện rồi!”. Đến giờ vẫn một mình vậy thôi!". Những ngày đó đói kém, chỉ ăn sắn, ăn khoai nhưng quyết không để con mình đói khổ, thiếu chữ.
Đúng 40 nữ, phần nhiều quê gốc Hưng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An. Nơi ấy những cô gái không bao giờ lấy chồng, cây rừng kết phòng the mà không chú rể, quay đi quay lại vẫn những lưng ong con gái, mâm cơm hắt hiu ngồi bên nào cũng lệch, chỉ có những đứa con “xin” được là có tiếng đàn ông

Đa số các cô gái hồi ấy từ miền Bắc và Bắc Trung Bộ được vận động hoặc xung phong vào đây làm nhiệm vụ ươm cây, phát rừng, trồng rừng. Dù một năm thì phải hết 9 tháng nằm rừng, chỉ mùa mưa mới được về lại đơn vị, thiếu thốn trăm bề, có tháng phải ăn cơm độn miên man nhưng sau một thời kì ngắn, chỉ có cánh chân yếu tay mềm quyết tâm trụ lại, còn nhiều anh chàng sức dài vai rộng thì lại bỏ về quê vì không chịu nổi sự khắc nghiệt của rừng già.
Chị Thiện là một trong số những cô gái của Liên hiệp Lâm - Công nghiệp ngày ấy đã chọn Kbang làm nơi dừng chân đến tận hiện nay. “Tự túc” và một hy vọng tương lai Dưới những tán rừng đang lên xanh ngát này, các chị đều cùng chung cảnh ngộ nên họ thương nhau, coi nhau như cật ruột. Sau gần 60 km từ trọng điểm huyện Kbang đi vào, ông Hà Văn Hoạt - Phó Chủ tịch xã Sơn Lang nhận làm người dẫn đường đưa chúng tôi đến với những người nữ giới của mảnh rừng con gái ngày ấy.
Thế mà các cô gái chúng tôi tích cực lắm, không quản gì khó nhọc”. Và thế là những khoảnh rừng nghi ngút, xanh thăm thẳm chỉ còn lại toàn con gái. “Ngày con vào đại học, phải chạy đôn chạy đáo khắp nơi vay lấy tiền cho con.
Tranh thủ giờ nghỉ trưa, chị Liệu ngủ ngay trên chiếc ghế để lấy sức chiều tiếp kiến công việc. Con trai chị Đặng Thị Nguyệt nay đã có gia đình ở thị thành Plâycu, muốn đón mẹ ra ở cùng, sợ mẹ ở trong rừng nặng nhọc, nhỡ đâu có chuyện gì, nhưng chị Nguyệt bùi ngùi: “Nó thương mẹ nên muốn mẹ ra ở cùng.
Mấy năm trước đang lúc đi hái cà phê thuê chị thiếu máu và bị lao lực nên nằm vật ra đất xỉu, mấy chị em hoảng quá đưa chị ra bệnh viện cấp cứu, thầy thuốc truyền cho vài bình máu chị mới tỉnh lại mà nuôi con đến giờ được, chứ nếu không chị đã bỏ lại đứa con trai của mình mà về với đất rồi.
Chị Hồng và đứa con trai đầu bị bệnh đang nhận phần ăn trưa từ một chị em khác. Trả hết nợ rồi còn sinh lời được 4 con, mới rồi mới bán 1 con cho thằng Lập đi xin việc đó!", chị Liệu cười vui, trong ánh mắt lấp lánh một ngày mai rạng ngời. Thời gian thấm thoát trôi, đến khi nhìn lại mình thì chị cùng các cô gái khác đã quá lứa lỡ thì, đành chấp nhận “tự túc” kiếm lấy mụn con mà coi sóc.
Nhìn lại quãng đời đã qua, chị Lê Thị Vân cũng cảm thấy ngỡ ngàng: “Hồi đó có chị cũng cắn răng mà chịu, chỉ núm vun vén cho đứa nhỏ. Rừng thì cứ xanh thêm, lớn thêm từng ngày, nhưng mái tóc của các chị lại cứ rơi rụng dần, bạc hơn, và những ngày tháng đẹp đẽ, vô tư lự của tuổi thanh xuân cứ trôi qua mải miết trong nghìn trùng xanh thẳm của rừng trên lâm trường này.
Những đứa con ra đời mang họ mẹ, được các chị xem như một “bảo bối” của đời mình. Cơm độn, rau rừng, mưa rừng, muỗi, vắt khiến những thân “liễu yếu” đánh vật với những cơn sốt rét ai nấy đều xanh rớt vàng vọt. Chứ nhớ lại cũng không biết mình làm cách nào vượt qua vơ được đến chừ nữa!”. Nhưng mình đã ở đây cả tuổi xanh rồi, không muốn đi nữa.
40 cô gái với nhiệm vụ phát rừng, dọn vệ sinh rừng, và sống với nhau

Câu nói trước hết của chị khi gặp chúng tôi đã bắt đầu cho một quãng thời kì nhói lòng: “Lúc ấy tuồng như người ta quên hết mọi thứ, mong muốn được về lại quê hương lớn đến mức lấn át cả tình. Vì thế, không lạ khi có trường hợp 5 cô của một đơn vị cùng kéo lên gặp lãnh đạo đơn vị xin được chuyển vùng để. Thằng bé đứng ở đầu lô hai tay để lên miệng như thể chiếc loa rồi gọi to “Mẹ ơi, các dì ơi! Có người gặp mẹ và các dì này, lên đây nhanh đi!”.
Các chị cứ lặng thầm giấu kín nỗi quặn đau trong gượng gập nụ cười, ngày lại ngày cùng níu lấy thân cây, để cây đỡ người không gục ngã.
Đi sao đành!”. Nói rồi chị Vân cười, tiếng cười nhẹ tênh, thoả nguyện. Đến năm 1984, Sư đoàn 332 chuyển thành Liên hiệp Lâm - Công nghiệp Kon Hà Nừng do Bộ Nông nghiệp quản lý.
Đã có lúc 40 cô phải cử đại diện đến yêu cầu liên hợp “cân đối” số lượng nam nữ trong đội, nhưng làm sao mà cân đối cho được vì không kiếm đâu ra.
Sau này, Liên hiệp giải tán, cả 8 lâm trường được giao về cho tỉnh. Trong hơn một nửa số người là đàn bà của lâm trường ngày ấy đã chấp nhận số mệnh, chấp thuận với mạng sống tại nơi này. Những mảnh rừng con gái đã xanh ngăn ngắt, nhưng nơi ấy đã lấy đi của các chị hạnh phúc được làm vợ, làm mẹ, hạnh phúc của một gia đình nhỏ bé giản đơn.
Bao khó khăn khó nhọc của những ngày đầu khẩn hoang vùng đất mới. Tuổi xuân các chị đã gửi lại nông trường, khai phá vỡ đất trồng rừng.
Chiều ríu ran những giọng nói chưa chồng thời khắc sau giải phóng, một đơn vị thuộc Quân khu 5 được thành lập làm nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng tại Gia Lai. Tất thảy đều mới đôi mươi. Đến những năm 1984 -1985, nhiều cô lỡ thì không có được một chốn lời tựa đã tìm đường về lại quê nhà.
Nhưng cay đắng nhất vẫn là những tháng năm cắn răng chịu đựng tiếng đời. Miệng đời oan nghiệt vẫn thường nhằm vào những người phụ nữ này mỗi khi có xích mích.
Nếu không có họ, chắc gì những mảnh rừng kia được hồi sinh như thế!”. Họ đã cống hiến hết tuổi thanh xuân cho mảnh đất này, cho cuộc sống này không hề lừng khừng, không một lời thở than để những mảnh rừng cháy đỏ vì bom đạn, vì chất độc xanh lên từng ngày. Ở đây, chị được phân vào đại đội vườn ươm, chuyên ươm cây và trồng rừng cùng nhiều cô gái khác cũng ở tuổi đôi mươi

“Chú gặp mẹ cháu ạ! Để cháu ra lô gọi mẹ cháu về, mẹ cháu đang đi làm ngoài lô kia, gần đây thôi!”. Phải rồi, những khó khăn đã trở thành quá vãng, giờ chỉ còn mai sau trước mắt, và thế hệ mai sau sẽ không còn phải chịu những nỗi đau như các chị nữa đâu.
Tất đều ngoan ngoãn, và hầu như biết căn số không may mắn của thế cục nên ai cũng chũm để có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Chị Thiện bồi hồi nhớ lại: “Hồi ấy, vùng này hoang vu lắm, tàn tích chiến tranh còn đầy rẫy, ngổn ngang. Có lẽ lâu lắm rồi cái ngõ này mới có người lạ ghé thăm nên phản ứng của đứa bé ấy mới bàng hoàng như thế.
Chia tay những mảnh rừng con gái, tôi về lại đồng bằng, ngang qua những mảnh rừng con gái một thời, những câu chuyện của các chị cứ văng vẳng trong tâm trí cứ ám ảnh mãi không thôi. Số phận đã đưa những cô gái đang tuổi đôi mươi như chị Thiện từ Hưng Yên vào Kbang năm 1978, đến với những cánh rừng đang cần được hồi sinh.
000 con người từ khắp nơi được đưa về đây, trong đó có hơn một nửa là phụ nữ. Bởi vậy, các chị phải làm hồ hết các công việc, kể cả việc nặng nhọc nhất để bám trụ lại nơi này. Tôi cũng đã bỏ lại một mối tình ở quê nhà Hưng Yên để ở lại mảnh đất này.
Bài và ảnh: Gia Ly. Chị Trần Thị Liệu bảo, nói gở tưởng ngày 15/10 hằng năm là ngày giỗ của chị rồi. Rồi may thay, bên Hội đàn bà tương trợ được một con bò nuôi đẻ. Ở đây còn có chị có em, có những người đã cùng mình lăn lộn với rừng bao năm qua. Một điều có phần yên ủi cho các chị nơi đây là khi những đứa con họ “xin được” (tuốt luốt đều mang họ mẹ) đã khôn lớn, có người đã có công việc ổn định ngoài tỉnh thành, có người đang học đại học.
Theo thằng bé, chúng tôi đi bộ khoảng hơn cây số đến chỗ các chị đang phát dọn rừng. Họ là những con người kiêu dũng trong cả công việc và trong cả đời thường. Thế nhưng hành trình “vượt cạn” sinh con, rồi những năm tháng một thân một mình nuôi con lớn khôn, với mỗi người là cả một câu chuyện dài và đầy tủi hổ.
Những đứa trẻ lớn lên trong sự trêu chọc, xa lánh của bạn bè ở trường. Một thứ hội chứng tâm lý cứ lửng lơ treo trên số các chị. Những nghẹn ngào chốn rừng cười Chị Thiện nói chuyện với tôi, hiếm lại xen vào giữa câu chuyện lại có những tiếng cười chua chát, mai mỉa nhưng chồng chất những nỗi niềm. Cây rừng thì đã biếc xanh, chỉ có người là ngày càng sạm đen đôi má, còn rừng vẫn run rẩy hồi sinh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét